Cơ hội nào để doanh nghiệp hóa chất giảm phụ thuộc nhập khẩu?

Với tốc độ tăng trưởng 10-11%/năm, ngành hoá chất Việt Nam đang mở ra cơ hội cho doanh nghiệp trong nước gia tăng nội lực, tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Thách thức từ nhập khẩu nguyên liệu
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương mới đây, ông Nguyễn Tuấn Đạt – Giám đốc dự án Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam cho biết: Doanh nghiệp đầu tư dự án nhà máy sản xuất lốp các loại xe tải nặng radial toàn thép, lốp xe công trình, lốp xe tải trọng, lốp xe tải nhẹ…
Năm 2023, nhà máy chính thức đi vào hoạt động với quy mô khoảng 2 triệu lốp/1 năm. Để phục vụ cho sản xuất lốp năm 2023, số tiền doanh nghiệp phải chi để nhập khẩu nguyên, nhiên liệu sản xuất lốp là 6.000 tỷ đồng.
Theo ông Nguyễn Tuấn Đạt, việc phải chi đến 6.000 tỷ đồng để nhập khẩu nguyên, nhiên liệu sản xuất là vô cùng lãng phí, điều này làm gia tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm, làm giảm sức cạnh tranh và ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, cuối năm 2025, nhà máy dự kiến nâng công suất sản xuất thêm 4 triệu lốp/năm để nâng tổng công suất lên thành 6 triệu lốp/năm. Nếu dự án đi vào hoạt động ông Nguyễn Tuấn Đạt cho rằng, số tiền doanh nghiệp phải chi ra để nhập khẩu nguyên, phụ liệu phục vụ cho sản xuất lốp xe tại Việt Nam trong giai đoạn tới có thể gấp đôi, thậm chí gấp 3 so với năm 2023.
‘Đây là một sự lãng phí nguồn lực vô cùng lớn đối với doanh nghiệp và cả nền kinh tế Việt Nam’ – ông Nguyễn Tuấn Đạt khẳng định.
Cũng nói về vấn đề thiếu nguyên liệu cho sản xuất lốp tại Việt Nam, ông Yuan Guoqiang – Giám đốc dự án Công ty TNHH Haohua Việt Nam cho rằng: Rất nhiều nguyên liệu quan trọng để sản xuất lốp xe như: Cao su tổng hợp, than đen đều phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
‘Nguyên liệu phụ thuộc nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến giá thành, tiến độ và chi phí sản xuất của doanh nghiệp’ – ông Yuan Guoqiang khẳng định.
Báo cáo về tình hình xây dựng chính sách thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam tại Hội thảo Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam diễn ra mới đây, ông Phạm Huy Nam Sơn – Phó Cục trưởng Cục Hóa chất – Bộ Công Thương đã thẳng thắn cho rằng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của ngành hóa chất khoảng 10-11%/năm, tuy nhiên quy mô và tốc độ phát triển của ngành công nghiệp hóa chất vẫn chưa tương xứng với vai trò, tiềm năng phát triển.
‘Nhiều loại nguyên liệu và sản xuất hóa chất còn phụ thuộc vào nhập khẩu; đầu tư cho ngành hóa chất còn hạn chế, cơ cấu đầu tư còn bất hợp lý, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị tăng cao, chưa hình thành chuỗi giá trị các sản phẩm hóa chất trong khu vực và toàn cầu’ – ông Phạm Huy Nam Sơn thông tin thêm.
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của ngành hóa chất khoảng 10-11%/năm. Ảnh: LA

Cơ hội cho doanh nghiệp hóa chất trong nước
Theo ông Phạm Huy Nam Sơn, Đại hội Đảng XIII xác định, hóa chất là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, phát triển công nghiệp hóa chất là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội cả nước.
Theo đó, nhằm tạo cơ chế, chính sách phù hợp để triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời phát triển công nghiệp hóa chất theo hướng bền vững, tăng trưởng xanh, an toàn và thân thiện với môi trường, trong quá trình xây dựng Luật Hóa chất (sửa đổi), Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ 5 giải pháp, bao gồm: Thứ nhất, bổ sung các quy định về xây dựng và thực thi chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất; Thứ hai, xây dựng yêu cầu, tiêu chí, quy định đặc thù đối với dự án hóa chất; Thứ ba, ưu đãi đối với lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm; Thứ tư, xây dựng các quy định nhằm quản lý, thúc đẩy mạng lưới tư vấn trong hoạt động hóa chất, hỗ trợ phát triển cả về số lượng và chất lượng; Thứ năm, sửa đổi quy định về thời điểm thẩm định Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Tuấn Đạt cho rằng, sản phẩm Công ty TNHH Lốp Advance Việt Nam sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu sang các thị trường lớn trên thế giới, đòi hỏi yêu cầu cao về chất lượng. Dù yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm đầu vào, doanh nghiệp hoá chất trong nước hoàn toàn có thể đáp ứng được nếu như họ tìm hiểu rõ các tiêu chí mà doanh nghiệp đưa ra.
Cũng theo chia sẻ từ ông Nguyễn Tuấn Đạt, doanh nghiệp đang mong muốn tìm kiếm những nhà cung cấp nguyên, nhiên vật liệu trong nước để giảm chi phí thời gian, giảm chi phí nhập khẩu nguyên, nhiên liệu, từ đó giảm thời gian và giá thành cho sản phẩm. Theo đó, nếu các doanh nghiệp hoá chất nội địa quan tâm, có thể đến tìm hiểu, công ty sẽ có phương án hợp tác, hỗ trợ tạo thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu sản xuất và tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Để tạo thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp hoá chất, Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo Luật Hoá chất (sửa đổi). Dự thảo đã bổ sung các quy định về xây dựng và thực thi Chiến lược Phát triển ngành công nghiệp hoá chất theo hướng quy định rõ yêu cầu đối với nội dung chiến lược, giai đoạn lập chiến lược, trách nhiệm xây dựng, thẩm định phê duyệt và trách nhiệm tổ chức thực hiện…

Ngành hóa chất: Hướng tới vai trò ngành công nghiệp nền tảng

Luật Hóa chất (sửa đổi) được trình tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đóng vai trò quan trọng xây dựng một ngành công nghiệp mang tính nền tảng quốc gia.
Dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi) trình tại kỳ họp gồm 8 chương, 50 điều quy định về nguyên tắc, chính sách trong phát triển công nghiệp hóa chất, hoạt động hóa chất; hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm; an toàn, an ninh hoạt động hóa chất và trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hóa chất cũng như quản lý nhà nước về hóa chất và cung cấp thông tin trong lĩnh vực hóa chất.
Trong phát biểu tại kỳ họp, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã nhấn mạnh và đề cập rõ các nhóm vấn đề chính được đại biểu Quốc hội quan tâm gồm: Lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm; hoạt động tư vấn chuyên ngành hóa chất và điều kiện tư vấn; xây dựng Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; điều khoản hợp tác quốc tế; một số nội dung giao Chính phủ quy định; về thủ tục hành chính.
Bộ trưởng khẳng định: “Với tinh thần cầu thị, trong quá trình hoàn thiện dự án Luật, cơ quan soạn thảo đã nỗ lực tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức liên quan. Sau phiên thảo luận hôm nay, chúng tôi cam kết tiếp tục cùng cơ quan chủ trì thẩm tra nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu tối đa ý kiến xác đáng của các đại biểu để hoàn thiện dự thảo Luật, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp này”.
Ngành hóa chất được xác định là một trong những ngành công nghiệp nền tảng của quốc gia theo Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ngành hóa chất: Hướng tới vai trò ngành công nghiệp nền tảng
Bởi vậy, việc Luật Hóa chất (sửa đổi) khi được Quốc hội thông qua đóng vai trò quan trọng thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW để ngành hóa chất Việt Nam bảo đảm vai trò của mình. Đồng thời, đóng góp tích cực cho nền kinh tế – xã hội cũng như bảo đảm tính bền vững trong bảo đảm môi trường.
Tăng tốc đi đôi với bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững
Những năm qua, ngành hóa chất Việt Nam đã đi từ sản xuất thô sơ đến hội nhập toàn cầu với những bước tiến đáng ghi nhận. Quy mô tăng trưởng của ngành khá ấn tượng như đóng góp 10% GDP công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu hóa chất đạt 12 tỷ USD/năm (số liệu năm 2024), trong đó phân bón, nhựa, cao su là những mặt hàng chủ lực. Nhiều sản phẩm và thương hiệu hóa chất Việt Nam đã khẳng định được vai trò không chỉ ở thị trường trong nước còn vươn tới thị trường quốc tế.
Ngành hóa chất cũng là ngành chủ động ứng dụng công nghệ cao. Nhiều doanh nghiệp chuyển dịch sang “hóa chất xanh”, đầu tư hệ thống xử lý chất thải hiện đại, áp dụng tiêu chuẩn GHS, REACH của EU. Đây cũng là ngành thể hiện được tính hội nhập sâu rộng trong việc mở rộng thị trường đi đôi với tuân thủ các quy định khắt khe về an toàn hóa chất.
Tuy nhiên, do là ngành công nghiệp mang nhiều tính đặc thù nên nhiều áp lực đặt ra cho phát triển ngành hóa chất. Một trong những “bài toán” mang tính áp lực là vấn đề hiệu quả, hiệu lực các quy định về kiểm soát hoá chất để bảo đảm môi trường, bảo đảm an toàn xã hội. Dù Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã siết chặt, nhưng việc thực thi tại các địa phương vẫn chưa nghiêm.
Một áp lực khác cho phát triển ngành hoá chất là sự chồng chéo pháp lý. Hiện nay, quản lý hóa chất bị “phân mảnh” giữa Luật Hóa chất (2007), Luật Bảo vệ môi trường (2020), Luật An toàn Lao động (2015) dẫn đến tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
Một áp lực nữa đến từ chính quá trình hội nhập. Các hiệp định thương mại yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ tiêu chuẩn khắt khe về hóa chất mang tính hạn chế, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Ở đây, nếu không chủ động để kịp thích ứng, ngành hóa chất Việt Nam có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.
Pháp luật cần đi trước
Bối cảnh đó cho thấy cần một tư duy pháp lý đột phá cho phát triển ngành hoá chất hướng tới việc phát triển bền vững, theo hướng luật pháp phải đi trước một bước, chứ không phải chạy theo sự cố.
Việc dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi) được trình tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội (khoá XV) là nỗ lực rõ nét cho điều này, góp phần hoàn thiện khung pháp lý để có thể tích hợp đầy đủ các quy định cần thiết.
Song, khung pháp lý để ngành hóa chất phát triển và hội nhập bền vững đã quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là tăng cường giám sát thực thi, ứng dụng công nghệ hiện đại để truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất thải theo thời gian thực.
Một số chuyên gia nhìn nhận, một nền công nghiệp hóa chất phát triển thực sự không chỉ đo bằng doanh thu tỷ USD, mà bằng cách nó đóng góp cho xã hội và bảo vệ môi trường. Đích đến của ngành hóa chất Việt Nam là cần chuyển mình thành một ngành công nghiệp “sạch, thông minh và có trách nhiệm”.
Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm với sức khỏe cộng đồng, hệ sinh thái và cả uy tín quốc gia. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là sự chủ động và trách nhiệm của chính các doanh nghiệp hóa chất.
Việc thông qua Luật Hóa chất (sửa đổi) góp phần thực hiện mục tiêu đưa ngành hóa chất Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp “sạch, thông minh và có trách nhiệm”.

Ứng phó sự cố hoá chất: Cần kế hoạch toàn diện từ địa phương đến doanh nghiệp

Trước nguy cơ sự cố hóa chất ngày càng phức tạp, các địa phương và doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch ứng phó toàn diện, sẵn sàng trong mọi tình huống.
Ứng phó sự cố hóa chất: Không thể chủ quan
Thống kê cho thấy, lượng hóa chất sử dụng của Việt Nam đang tập trung tại các nhà máy, khu công nghiệp của các thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh có nhiều khu công nghiệp. Bên cạnh các sản phẩm có thể dễ nhận thấy trong một số lĩnh vực nông nghiệp, dược phẩm, bảo vệ thực vật, hóa chất, tiêu dùng, hóa chất còn tham gia nhiều vào quá trình sản xuất, chế tạo của nhiều ngành kinh tế.
Việc tổ chức diễn tập là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự sẵn sàng trong công tác ứng phó. Ảnh: NH
Với đặc tính của nhiều loại hóa chất độc, nguy hiểm là tính oxy hóa mạnh, ăn mòn mạnh, dễ cháy, độc cấp, tính độc hại đến môi trường nên khi xảy ra các sự cố rò rỉ, cháy, nổ rất nguy hiểm.
Đơn cử tại địa phương như Bắc Giang phát triển công nghiệp trên diện rộng. Hiện toàn tỉnh có hơn 150 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hóa chất. Sản lượng hóa chất được sản xuất và tiêu thụ hàng trăm nghìn tấn mỗi năm, chủ yếu là chất tẩy rửa, làm sạch bề mặt và xử lý nước thải. Tuy nhiên nhiều năm qua, địa phương không xảy ra sự cố hoá chất nào. Cùng với Công ty TNHH Đại Quang Chemistry Vina, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động liên quan đến hóa chất tại Bắc Giang như: Công ty cổ phần Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, Công ty TNHH Hosiden Việt Nam, Công ty TNHH Air Liquide Việt Nam, Công ty TNHH Fuhong Precision Component (Bắc Giang),… cũng thực hiện tốt việc bảo đảm an toàn trong sản xuất, cung ứng, quản lý, sử dụng hóa chất.
Theo Sở Công Thương Bắc Giang, Sở đã tích cực triển khai, trọng tâm là tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn daonh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về hoạt động hóa chất; thực hiện nghiêm kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa các ngành, UBND cấp huyện, xã có liên quan để kiểm tra, nắm tình hình, phục vụ quản lý hiệu quả. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức chấp hành các quy định về an toàn trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất; phòng ngừa có hiệu quả sự cố, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất an toàn, hiệu quả, bảo vệ sức khỏe con người, môi trường bền vững.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Vương Thành Chung – Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố và An toàn hóa chất, Cục Hoá chất (Bộ Công Thương) cho biết, theo điều 37, Luật Hóa chất quy định: Hàng năm, các cơ sở hóa chất phải xây dựng lực lượng ứng phó tại chỗ và phải thường xuyên huấn luyện và thực hành diễn tập các phương án ứng phó sự cố hóa chất. Việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm, đồng thời kiểm tra năng lực phối hợp hành động giữa các cơ quan, đơn vị có chức năng với các công ty, nhà máy, doanh nghiệp trong công tác ứng phó với sự cố hóa chất diễn ra trên địa phương nơi mình sinh sống.
“Tuy nhiên, thời gian qua vẫn còn tình trạng doanh nghiệp chủ quan, lơ là, thụ động chỉ chú trọng quan tâm thật sự sau khi sự cố xảy ra. Một số cơ sở dù có quan tâm nhưng thực hiện mang tính đối phó chưa đầy đủ. Vi phạm phổ biến là chưa thực hiện việc xây dựng biện pháp, kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố; chưa tổ chức huấn luyện an toàn hóa chất; chưa xây dựng được nội quy an toàn hóa chất cho cơ sở sản xuất, sắp xếp hóa chất trong kho chưa đảm bảo an toàn theo đúng các quy định hiện hành” – ông Vương Thành Chung chỉ ra.
Chủ động diễn tập, xây dựng các kịch bản ứng phó tốt
Theo Cục Hoá chất, thời gian qua các địa phương đã có một số hoạt động tích cực trong công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất. Hầu hết các tỉnh đã triển khai xây dựng Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất cấp tỉnh được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thẩm định và phê duyệt.
Nhiều địa phương trên cả nước đã chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp với doanh nghiệp tổ chức diễn tập Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất cấp tỉnh, hoặc tổ chức diễn tập kết hợp với ứng phó sự cố tràn dầu, một số tỉnh đã triển khai diễn tập như: Hà Nội, Phú Thọ, Lào Cai, Đà Nẵng, Trà Vinh, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên, Bắc Giang, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bình Dương, Thái Bình…
Liên quan đến nội dung này, ông Hoàng Quốc Lâm – Phó Cục trưởng Cục Hoá chất nêu thêm giải pháp, diễn tập ứng phó sự cố hóa chất rất quan trọng đối với các địa phương: Thứ nhất, việc tổ chức diễn tập sẽ giúp các địa phương có sự chuẩn bị kỹ càng, sự tập luyện thành thục trong công tác ứng phó sự cố, có sự nhanh nhạy và linh hoạt để ứng phó khi sự cố hóa chất xảy ra.
Thứ hai, thông qua các cuộc diễn tập sẽ giúp nhìn nhận ra những điều còn thiếu sót để kịp thời bổ sung, rút kinh nghiệm trong việc ứng phó sự cố, sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia ứng phó.
Thứ ba, việc tổ chức diễn tập sẽ giúp địa phương thấy được sự nguy hiểm của sự cố hóa chất, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp để có ý thức hơn trong việc tăng cường công tác phòng ngừa sự cố hóa chất.
Ông Vương Thành Chung cũng cho hay, liên quan tới các sự cố hoá chất thường để lại những hậu quả nặng nề, trong khi lực lượng và trang thiết bị ứng phó tại chỗ rất hạn chế, không đủ khả năng tự ứng phó. Theo đó, cần tăng cường công tác diễn tập ứng phó sự cố hoá chất; nâng cao nhận thức về việc huấn luyện kỹ thuật an toàn trong quá trình vận chuyển… Bên cạnh đó, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong ứng phó sự cố hóa chất, nêu cao tinh thần trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật, nhằm ngăn ngừa không để sự cố xảy ra cũng như sẵn sàng tích cực tham gia ứng phó khi sự cố xảy ra.
“Chủ động ứng phó sự cố hóa chất cũng góp phần đẩy mạnh công tác đảm bảo an toàn trong hoạt động hoá chất, thúc đẩy phát triển công nghiệp các địa phương và hướng tới sự phát triển bền vững ngành công nghiệp hoá chất trên cả nước” – ông Vương Thành Chung thông tin.
Theo Cục Hoá chất, để phòng ngừa và ứng phó có hiệu quả sự cố hóa chất trên phạm vi cả nước, các địa phương cần phải đẩy mạnh công tác quản lý, xây dựng phương án phòng ngừa sự cố hóa chất và đặc biệt là đẩy mạnh thực hiện diễn tập ứng phó sự cố hóa chất.

Dự án đổ 273.000 lít hóa chất xuống biển chống biến đổi khí hậu

Các nhà môi trường học và ngư dân đang phản đối kế hoạch của một nhóm nhà khoa học muốn đổ gần 273.000 lít sodium hydroxide xuống vịnh Cape Cod để giảm biến đổi khí hậu.

Vùng biển Cape Cod được chọn cho thí nghiệm đổ hóa chất. Ảnh: National Geographic
Vùng biển Cape Cod được chọn cho thí nghiệm đổ hóa chất. Ảnh: National Geographic
Nhóm nhà khoa học đến từ Viện Hải dương học Woods Hole tại Falmouth đang xin giấy phép để tiến hành dự án đổ 30.000 lít hóa chất ở cách đảo Martha’s Vineyard khoảng 16 km về phía nam, dự kiến bắt đầu vào mùa hè năm nay, theo Phys.org. Dự án mang tên LOC-NESS của Viện Woods Hole tập trung vào hai mục đích chính.
Mục đích đầu tiên là tìm hiểu tác động tiềm ẩn tới môi trường khi tăng cường độ kiềm của nước biển để loại bỏ carbon dioxide (CO2) trong khí quyển. Mục đích còn lại là kiểm nghiệm và báo cáo lượng CO2 có thể bị loại bỏ theo phương pháp này nếu triển khai ở quy mô lớn.
“Dù cắt giảm khí thải đóng vai trò chủ chốt nhằm giảm thiểu tác động của con người tới khí hậu Trái Đất, trong những năm gần đây, rõ ràng việc cắt giảm khí thải cần được hỗ trợ bằng cách loại bỏ carbon dioxide trong không khí”, nhóm nhà khoa học ở Woods Hole cho biết.
Các nhà môi trường học và ngư dân không ủng hộ thí nghiệm dự kiến tiếp tục vào mùa hè năm sau ở quy mô lớn hơn nhiều với khoảng 272.765 lít hóa chất xuống vùng biển phía đông bắc Provincetown ở vịnh Maine.
Friends of the Earth là một trong hàng chục tổ chức viết thư cho Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ nhằm phản đối dự án. Họ nhấn mạnh tăng cường độ kiềm đại dương, quá trình thêm hợp chất kiềm vào nước biển nhằm thay đổi độ Ph và khả năng hấp thụ carbon tự nhiên của đại dương không phù hợp với Công ước về Đa dạng sinh học của Liên Hợp Quốc do rủi ro và tính không chắc chắn của công nghệ này đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái.
Theo nhà vận động Benjamin Day của tổ chức Friends of the Earth, sodium hydroxide là hợp chất cực kỳ nguy hiểm. Nó gây ra bỏng hóa chất nếu tiếp xúc với da người hoặc động vật biển. Hoạt động tăng độ kiềm thường sử dụng khoáng chất như đá vôi và tạo ra một loạt vấn đề khác. Tuy nhiên, sodium hydroxide đặt ra nhiều vấn đề tức thời hơn. Những ngư dân trong vùng cũng lo sợ thí nghiệm có thể ảnh hưởng tới sản lượng đánh bắt của họ.
Các nhà khoa học Woods Hole cho biết dự án sẽ hoạt động trong dải pH an toàn đối với sinh vật sống dưới nước và tuân thủ quy định nghiêm ngặt về theo dõi môi trường. Họ sẽ thường xuyên theo dõi độ kiềm, sử dụng bộ dụng cụ chuyên dụng, cảm biến và thiết bị lấy mẫu. Kết quả sẽ cung cấp dữ liệu đo đầu tiên trong nước về độ an toàn của phương pháp, bao gồm tác động tới thành phần hóa chất trong nước, mạng lưới thức ăn ở biển và sinh vật lớn. Theo Alison Brizius, giám đốc Cơ quan quản lý vùng ven biển Massachusetts, dự án này rất cần thiết nhằm hiểu rõ tác động của việc loại bỏ carbon dioxide bằng nước biển.

Đại biểu Quốc hội: Cần ‘khóa’ lỗ hổng mua bán xyanua tràn lan

Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định chặt chẽ hơn trong sản xuất, nhập khẩu và lưu trữ, xử lý chất thải, hóa chất độc hại như xyanua, tránh mua – bán diễn ra tràn lan.
Trong phiên thảo luận về dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi) tại Quốc hội sáng 6/5, đại biểu Trần Khánh Thu (Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình) nêu thực trạng việc mua bán chất xyanua diễn ra tràn lan trên thị trường. Cá nhân, tổ chức không phải đáp ứng các điều kiện nào khi mua, sử dụng loại chất này.
Xyanua và hợp chất chứa xyanua thường được sử dụng trong thuốc trừ sâu, chất khử trùng, nhựa, mạ điện và khai thác mỏ vàng, bạc. Theo Nghị định 113, chất này không trong diện hóa chất cấm, mà chỉ thuộc danh mục quản lý có điều kiện. Các quy định hiện hành cũng không nêu việc người bán phải kiểm tra điều kiện của bên mua mới được bán.
“Tình trạng mua bán chất xyanua diễn ra tràn lan và thực tế có nhiều vụ án thương tâm liên quan đến đầu độc bằng hóa chất”, bà Thu nêu.
Bà Trần Khánh Thu, đại biểu tỉnh Thái Bình phát biểu tại phiên thảo luận ngày 8/5. Ảnh: Trung tâm báo chí Quốc hội
Năm ngoái từng xảy ra hai vụ án rất nghiêm trọng mà hung thủ sử dụng xyanua để gây án. Một vụ ở Đồng Nai và vụ còn lại do người Việt tại Thái Lan thực hiện. Đặc điểm của các vụ án là lượng xyanua rất nhỏ nhưng có thể gây ra án mạng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quốc phòng – an ninh.
Hiện nhiều nước quản lý xyanua và các sản phẩm chứa chất này khá nghiêm ngặt. Danh mục xyanua được phân cấp quản lý phù hợp theo mức độ nguy hiểm, mục đích sử dụng từng loại. Thực tế, theo bà Thu, xyanua có các dạng khác nhau (khí, rắn, lỏng) và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn, trong y tế, hợp chất xyanua natri nitroprusside còn được sử dụng giúp làm giảm huyết áp khẩn cấp và sử dụng như một chất giãn mạch trong các nghiên cứu về mạch máu, hỗ trợ điều trị bệnh lao, phong…
Theo quy định hiện hành, khi mua bán chất độc xyanua trên thị trường phải có phiếu kiểm soát, xác nhận của bên mua, bên bán. Phiếu kiểm soát này phải được các bên lưu giữ và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Ngoài ra, tại phiếu kiểm soát bắt buộc phải thể hiện số CMND/CCCD của người đại diện bên mua và bên bán kèm địa chỉ; tên, chữ ký của người mua, người bán; ngày tháng giao hàng; thông tin về tên hóa chất, số lượng hóa chất, mục đích sử dụng.
Tại lần sửa đổi này, Chính phủ tính siết quản lý, các hóa chất khi nhập khẩu phải được khai báo. Số liệu khai báo sẽ được đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu hóa chất và cung cấp trực tiếp cho các bộ quản lý chuyên ngành. Việc mua, bán hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, có phiếu kiểm soát, xác nhận của bên mua, bên bán.
Tuy vậy, các đại biểu cho rằng quy định tại dự thảo luật và nghị định hướng dẫn chưa thể hiện tính nghiêm khắc khi có hành vi vi phạm kinh doanh hóa chất cấm. “Các thủ tục cấp phép kinh doanh, kể cả loại bị kiểm soát đặc biệt chủ yếu là thủ tục hành chính”, bà Trần Khánh Thu nói, đề nghị bổ sung chế tài phạt nặng với trường hợp vi phạm, gây mất an toàn, hậu quả xấu tới sức khỏe, môi trường.
“Doanh nghiệp muốn sản xuất, nhập khẩu xyanua phải đăng ký mục đích sử dụng, số lượng và cam kết biện pháp quản lý rủi ro”, bà Thu nói.
Trong khi đó, ông Võ Mạnh Sơn (Thanh Hóa) cho rằng cần bổ sung trách nhiệm cá nhân, tổ chức trong xử lý vi phạm hay xảy ra sự cố hóa chất. Ngoài ra, quá trình vận chuyển, lưu trữ loại chất này cũng cần chặt chẽ, xử lý chất thải theo quy trình đặc biệt, cấm xả thải ra môi trường.
Ông Thạch Phước Bình, Phó trưởng đoàn chuyên trách tỉnh Trà Vinh, băn khoăn khi dự thảo luật mới chưa có quy định đánh giá rủi ro môi trường xã hội, đặc biệt với khu vực nhạy cảm như đô thị, khu dân cư… Việc thiếu tiêu chí rõ ràng, theo ông, dẫn tới lúng túng trong xây dựng đầu tư, hoặc bỏ lọt nguy cơ tiềm ẩn trong dự án hóa chất.
Ngoài ra, dự thảo luật chưa quy định bắt buộc kiểm định định kỳ hệ thống, thiết bị, điều kiện an toàn hóa chất, nhất là với cơ sở quy mô lớn hoặc có rủi ro cao. “Thực tế, nhiều vụ cháy nổ, rỏ rỉ, phát tán hóa chất xảy ra trong thời gian qua cho thấy lỗ hổng trong giám sát kỹ thuật định kỳ tại các cơ sở hóa chất, nhất là ở doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Bình cho hay.
Từ phân tích này, đại biểu đề nghị dự luật bổ sung quy định cơ sở hóa chất quy mô lớn phải kiểm định định kỳ theo thời hạn 3 năm một lần; lưu hồ sơ, đảm bảo các điều kiện về kiểm định khi có yêu cầu của cơ quan chức năng; vi phạm sẽ bị dừng hoạt động hoặc yêu cầu khắc phục trong thời hạn cụ thể…
“Việc bổ sung này nhằm chủ động phòng ngừa thay vì chỉ phản ứng sau khi có sự cố và tạo nền tảng hình thành thị trường dịch vụ kỹ thuật kiểm định hóa chất”, Phó trưởng đoàn tỉnh Trà Vinh nói thêm.
Dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội bấm nút thông qua vào giữa tháng 6.

Dự án hydro xanh lớn nhất châu Âu

Máy điện phân mới đi vào hoạt động ở Ludwigshafen sử dụng điện từ các nguồn tái tạo để sản xuất 8.000 tấn hydro mỗi năm.
Máy điện phân PEM 54 MW dùng để sản xuất hydro xanh tại Ludwigshafen. Ảnh: BASF
Tập đoàn hóa chất khổng lồ của Đức BASF thông báo triển khai dự án hydro xanh lớn nhất châu Âu nhằm giảm lượng phát thải carbon, Interesting Engineering hôm 18/3 đưa tin. Dự án sử dụng máy điện phân màng trao đổi proton (PEM) 54 MW, do công ty Đức Siemens Energy chế tạo, để sản xuất hydro xanh tại cơ sở của BASF ở thành phố Ludwigshafen, bang Rhineland-Palatinate.
Cỗ máy có công suất hơn gấp đôi máy điện phân PEM 24 MW ở Na Uy trong dự án hydro xanh đang hoạt động lớn nhất châu Âu trước đó. Công suất của nó cũng lớn hơn một chút so với mức 52,5 MW – tổng công suất của dự án Kasso ở Đan Mạch, dự kiến bắt đầu hoạt động đầy đủ vào quý II năm nay.
Được thiết kế để sản xuất hydro không carbon, máy điện phân PEM 54 MW có khả năng cung cấp cho nhà máy chính tới một tấn nguyên liệu hóa học quan trọng này mỗi giờ. Cỗ máy có tổng cộng 72 ngăn – các module trong đó quá trình điện phân thực sự diễn ra – và hứa hẹn giúp nhà máy chính của BASF giảm tới 72.000 tấn khí thải nhà kính mỗi năm.
Máy điện phân PEM 54 MW dùng điện từ các nguồn tái tạo để sản xuất hydro không phát thải với sản lượng lên đến 8.000 tấn mỗi năm. Hydro sau đó được đưa vào mạng lưới hydro Verbund và phân phối đến các cơ sở sản xuất dưới dạng nguyên liệu thô. Hiện tại, hydro được sử dụng để sản xuất những sản phẩm hóa học như amoniac, methanol và vitamin. Ngoài ra, BASF cũng sẽ cung cấp hydro cho hoạt động di chuyển tại vùng đô thị Rhine-Neckar, hỗ trợ phát triển kinh tế hydro trong vùng.
“BASF đã bước lên con đường đầy tham vọng hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0”, Katrin Eder, người đứng đầu Cơ quan Bảo vệ Khí hậu, Môi trường, Năng lượng và Giao thông của bang Rhineland-Palatinate, cho biết.
“Ngoài việc tăng dần sản lượng điện và nhiệt xử lý từ năng lượng tái tạo, công ty cũng dự định dùng nguyên liệu thô tái tạo thay cho những nguồn năng lượng hóa thạch hiện nay như khí tự nhiên. Được thiết kế để sản xuất hydro xanh làm nguyên liệu thô, máy điện phân mới tại Ludwigshafen đánh dấu một cột mốc quan trọng và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu bảo vệ khí hậu của bang Rhineland-Palatinate”, Eder nói thêm.

Quý I-2022: Nhập khẩu hóa chất đạt kim ngạch hơn nửa tỷ USD

(ĐN) – Theo Sở Công thương, trong tháng 3 vừa qua, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng hóa chất của tỉnh ước đạt 205 triệu USD, tăng 34,5% so với tháng trước. Tính chung trong 3 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của tỉnh ước đạt 525 triệu USD, chiếm 11,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh và tăng 30,8% so với cùng kỳ năm 2021. Đây là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao nhất của tỉnh trong quý I-2022.

Một số thị trường nhập khẩu chủ yếu đối với mặt hàng này của tỉnh như: Đài Loan đạt kim ngạch 163 triệu USD, Trung Quốc 93 triệu USD, Thái Lan 65 triệu USD, Nhật Bản 52 triệu USD, Hàn Quốc 49 triệu USD…

Ngành thủy sản, phân bón, hóa chất sẽ là tiêu điểm đầu tư trong bối cảnh mới

Đó là dự báo của Công ty Chứng khoán Everest (EVS) trong Báo cáo quan điểm đầu tư tháng 03/2022. Xung đột giữa Nga – Ukraine, áp lực lạm phát trên toàn cầu, sự biến động mạnh của giá cổ phiếu trên TTCK… là những câu chuyện mới trong bức tranh đầu tư tháng 3, cũng như các tháng tới đây của năm 2022.

EVS đánh giá, xung đột giữa Nga – Ukraine, các biện pháp trừng phạt và trả đũa làm trầm trọng hơn việc gián đoạn chuỗi cung ứng, gây ra sốc cung khiến giả cả hàng hóa liên tục phá đỉnh như giá dầu, phân bón… Áp lực lạm phát ngày càng gia tăng ở Mỹ và các nước châu Âu, buộc các Ngân hàng trung ương phải cân nhắc giải pháp thắt chặt tiền tệ trong bối cảnh vĩ mô bất ổn. Tại Việt Nam, áp lực lạm phát từ bên ngoài hiện hữu, nhưng vẫn được kiểm soát tốt bởi các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. CPI bình quân tháng 2 tăng 1.42% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục khả quan, tăng 13% so với cùng kỳ mặc dù chịu áp lực trực tiếp từ trong và ngoài nước.

Phản ứng trước những diễn biến trên, chỉ số chứng khoán Việt Nam giằng co quanh ngưỡng 1.500 điểm, thanh khoản tiếp tục giảm do các thông tin tiêu cực từ bên ngoài cộng với yếu tố mùa vụ. Điểm đáng mừng là kết quả kinh doanh quý IV/2021 của các doanh nghiệp cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ, lợi nhuận sau thuế của khối doanh nghiệp niêm yết tăng 17% so với cùng kỳ, dẫn đầu là ngành bán lẻ, dịch vụ tài chính… Dù vậy, biến động giá của cổ phiếu phân hóa rất mạnh giữa các nhóm ngành. Do giá cả hàng hóa quốc tế leo thang, các ngành được hưởng lợi như dầu khí, vận tải biển, thủy sản, phân bón đã có tỉ suất sinh lời rất tốt. Theo quan điểm của EVS, VN-Index có thể sẽ tiếp tục giao dịch trong biến độ hẹp và có thể hồi phục về mức đỉnh lịch sử 1.530 nếu thanh khoản thị trường khả quan trong tháng 03/2022.

Đồng Việt Nam ổn định là một lợi thế

Khối phân tích EVS đánh giá, việc kim ngạch xuất nhập khẩu khả quan trong bối cảnh Việt Nam đồng ổn định là một điểm sáng của bức tranh kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. 2 tháng đầu năm nay, tỉ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước diễn biến tương đối ổn định, Việt Nam đồng tăng giá nhẹ 0,03%. Diễn biến tiêu cực xảy ra dồn dập trên thị trường tiền tệ thế giới, nhất là căng thẳng địa chính trị Nga-Ukraina, FED tăng lãi suất, lạm phát bảo phủ châu Âu…, nhưng tại Việt Nam, với nền tảng dự trữ ngoại hối dồi dào (hơn 105 tỷ USD tính đến thời điểm đầu tháng 10/2021) cùng lượng kiều hồi chảy về đều đặn (dự kiến 20 tỷ USD trong năm 2022), EVS dự báo, VND sẽ tiếp tục tăng nhẹ trong suốt năm 2022 với biên độ hẹp 0,25-0,75%.

Về tiêu điểm đầu tư sắp tới, EVS đánh giá cao ngành thủy sản với các cổ phiếu có triển vọng nhất là VHC, ANV, FMC. Lý do, thủy sản sẽ tiếp tục là mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2022. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam năm 2022 dự báo sẽ đạt 2,1 triệu tấn (tăng 3,2% so với 2021), với giá trị 9,2 tỉ USD (tăng 3,5% so với 2021).

Mặc dù đã đạt mức xuất khẩu tốt trong 2021, các chi phí quản lý (do áp dụng biện pháp “3 tại chỗ”) và chi phí vận chuyển (giá cước vận tải, container vận chuyển) đè nặng lên các doanh nghiệp do Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp trong ngành gặp khó. Tuy nhiên, với kì vọng giãn cách xã hội sẽ khó có thể xảy ra và việc gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ dần được cải thiện, ngành thủy sản sẽ có thể hồi phục và phát triển mạnh trong 2022. Giá cả các mặt hàng xuất khẩu như cá tra, tôm sẽ tiếp tục tăng do cầu vượt cung.

Một ngành đáng quan tâm đầu tư khác là phân bón và hóa chất. Giá cả hàng hóa leo thang, các doanh nghiệp trong ngành này đang hưởng lợi. Theo Bộ Công Thương, giá phân bón tăng 682% YoY và hóa chất tăng 98.6% YoY trong tháng 1 vừa qua. Giá nông sản thế giới tăng nóng thời gian qua do rối loạn nguồn cung kết hợp với tình hình thời tiết thuận lợi đã thúc đẩy sản xuất nóng nghiệp phát triển kéo theo nhu cầu phân bón gia tăng.

Đặc biệt, giá nguyên liệu đầu vào của phân bón hiện đang tăng ở mức kỷ lục. Kể từ tháng 1/2022, giá quốc tế của một loạt các nguyên liệu sản xuất phân bón chính tăng vọt như giá ammoniac tăng 220%, urea tăng 148%, DAP tăng 90% và KCL tăng 198%. Trong đó, Nga và là nước xuất khẩu nguyên liệu phân bón hàng đầu thế giới với sản lượng xuất khẩu đạt lần lượt 9 và 8 triệu tấn (2021). Cuộc chiến Nga – Ukraine nổ ra và các lệnh trừng phạt từ Phương Tây đã khiến cho giá của các mặt hàng này tiếp tục tăng từ nền cao trong 2021. Đây là tác động chính khiến cho các cổ phiếu ngành phân bón và hóa chất tăng mạnh thời gian vừa qua.

EVS dự báo, kết quả kinh doanh khả quan của các doanh nghiệp trong ngành này sẽ kéo dài trong quý I/2022 Tổng hợp kết quả quý IV/2021 cho thấy, các doanh nghiệp ngành phân bón đều được hưởng lợi rất nhiều từ việc giá phân bón tăng cao. Đạm Phú Mỹ (HSX: DPM) có mức tăng trưởng ấn tượng 65% về doanh thu và 352% về lợi nhuận sau thuế so với cùng kỳ – mức lợi nhuận kỷ lục của DPM trong vòng 10 năm. CTCP Phân bón Dầu khí Cà Mau (HSX: DCM) cũng tăng trưởng mạnh doanh thu và lợi nhuân, với 31% và 190% so với cùng kỳ. “Chúng tôi cho rằng. với việc giá bán phân bón tiếp tục neo ở mức cao, kết quả kinh doanh quý I/2022 của các doanh nghiệp trong ngành sẽ tiếp tục khả quan, là chất xúc tác quan trọng kéo dài chu kỳ tăng giá của nhóm cổ phiếu phân bón và hóa chất thời gian tới”, EVS viết. Các cổ phiếu trong ngành được EVS khuyến nghị gồm DGC, DPM, DCM.

Chỉ số sản xuất công nghiệp Quý I năm 2022 tăng 6,4%

Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại tháng 3 năm 2022 cho thấy, sản xuất công nghiệp trong Quý I năm nay được khôi phục ở hầu hết các ngành, nhu cầu và sản lượng sản xuất đều tăng, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã hoạt động trở lại, nối lại các chuỗi cung ứng cơ bản thông suốt.

Nhờ tiến độ tiêm chủng nhanh chóng, sự phục hồi kinh tế toàn cầu và một số động lực chính như: việc ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho sự phục hồi và phát triển kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách các thủ tục hành chính, quá trình chuyển đổi kỹ thuật số tại Việt Nam… đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2022, hầu hết các ngành, lĩnh vực, địa phương đều trong xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại, trong đó có hoạt động sản xuất công nghiệp, cụ thể:

Về giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp: Quý I/2022, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 7,07%, tăng cao hơn so với mức tăng chung của toàn nền kinh tế (tăng 5,03%) và tăng cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước (Quý I/2021 tăng 6,44%), đóng góp 2,42 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 7,79%, đóng góp 2,05 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng trưởng dương 1,23% (khai thác than tăng 3,2% và quặng kim loại tăng 5%), làm tăng 0,04 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Về chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Với các giải pháp đồng bộ hỗ trợ, khôi phục sản xuất kinh doanh nên sản xuất công nghiệp tháng 3 đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3 tăng 22,9% so với tháng 2 và tăng 8,5% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2022, chỉ số IIP tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 6,5%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3%; ngành khai khoáng tăng 1%.

Chỉ số sản xuất quý I/2022 một số ngành trọng điểm thuộc các ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ, quặng và hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu thô và khí tự nhiên cùng tăng 47,7%; Sản xuất máy móc và thiết bị văn phòng (trừ máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính) tăng 43,7%; Sản xuất máy chuyên dụng khác tăng 28,3%; sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 23,9%; Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác tăng 22,6%; sản xuất điện dân dụng tăng 27,9%; Chế biến và bảo quản rau quả tăng 13,3%; sản xuất trang phục tăng và may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) cùng tăng 24,1%…

Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số giảm: Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp giảm 17,1%; Sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác) giảm 16,8%; Sản xuất máy cho ngành dệt, may và da giảm 14,1%; Sản xuất sản phẩm từ plastic và Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic cùng giảm 15,5%; Sản xuất pin và ắc quy giảm 12,8%; Khai thác quặng sắt giảm 13,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2022  tăng 19,1% so với tháng trước và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2022, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2021 tăng 5,8%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất trang phục tăng 25,5%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 14,2%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 16,7%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,2%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,1%…

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2022 tăng 17,7% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2021 tăng 22,5%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, như: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 55,9%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 17,4%; Dệt giảm 12,8%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 12,4%; Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 12,9%…

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất kim loại tăng 72,4%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 60,7%;  Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 36,7%; Sản xuất thiết bị điện tăng 36,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 32,6%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 25%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 22,9%…

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp Quý I năm 2022 được khôi phục ở hầu hết các ngành, nhu cầu và sản lượng sản xuất đều tăng, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã hoạt động trở lại, nối lại các chuỗi cung ứng cơ bản thông suốt. Chỉ số Nhà Quản trị mua hàng (PMI) tháng 2 tiếp tục tăng đạt 54,3 điểm, số lượng đơn đặt hàng mới tăng và điều kiện kinh doanh ổn định đã góp phần làm tăng sản lượng sản xuất trong nước. Tuy nhiên, ở một số ngành sản xuất do nguyên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao đã kìm hãm sự gia tăng của sản lượng sản xuất, mặt khác ở một số ngành lao động chưa hoàn toàn trở lại làm việc cũng đã tác động đến hoạt động khôi phục sản xuất, kinh doanh.

 

Ngành công nghiệp hóa chất chuyển mình trong cuộc cách mạng 4.0

Tổng sản lượng công nghiệp hoá chất Việt Nam hàng năm chiếm khoảng 10-11% tổng giá trị GDP ngành công nghiệp. Lực lượng lao động chiếm gần 10% và có năng suất lao động cao 1,36 lần năng suất lao động trung bình của toàn ngành công nghiệp do có mức độ tự động hoá khá cao.

Cuộc đại cách mạng công nghiệp 4.0 đã mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành công nghiệp hóa chất chuyển mình, tăng cao năng suất, chất lượng khi ứng dụng khoa học, công nghệ mới, thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững.

Tình hình sản xuất và áp dụng công nghiệp 4.0 của ngành hóa chất

Sau khi các dự án đang triển khai hoàn thành và hoạt động ổn định, giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỷ trọng từ 13-14% toàn ngành công nghiệp.

Tính đến năm 2020, toàn ngành công nghiệp hóa chất có khoảng 1.818 doanh nghiệp sản xuất phân bổ trên 6 vùng trong cả nước. Trong đó có 894 doanh nghiệp sản xuất phân bón (chiếm 49%), 106 doanh nghiệp sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật (chiếm 6%), 14 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hóa dầu (chiếm 1%), 68 doanh nghiệp sản xuất hóa chất cơ bản (chiếm khoảng 4%)… Hiện có khoảng 2,7 triệu lao động trong đó có 725.000 lao động trực tiếp tham gia sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất.

Một tín hiệu đáng mừng được ghi nhận là những năm gần đây, ngành hóa chất có sự tham gia đầu tư của nhiều thành phần kinh tế, nhiều dự án quy mô lớn. Điều đó cho thấy nhu cầu của thị trường và chính sách hấp dẫn của Nhà nước đối với phát triển công nghiệp và công nghiệp hoá chất.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu tất yếu đặt ra đối với ngành hóa chất trong thời gian tới là phải đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành hóa chất, tập trung vào việc sử dụng các sản phẩm phụ, chất thải hiện có của ngành làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất các sản phẩm khác.

Với Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn xác định quan điểm về công tác khoa học và công nghệ trong giai đoạn 2021-2025 là: Tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất đồng thời từng bước đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị bằng cách tăng cường ứng dụng công nghệ, thiết bị nhập khẩu tiên tiến, hiện đại, kết hợp chặt chẽ với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ, phát triển tiềm năng khoa học và công nghệ.

Qua đó, từng bước tạo ra công nghệ của mình trên cơ sở bám sát các vấn đề/yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất tại các doanh nghiệp/đơn vị của Tập đoàn, đồng thời quan tâm nghiên cứu phát triển những định hướng sản xuất mới nhằm giúp khẳng định, giữ vững và nâng cao vị thế doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp hóa chất, tương xứng với vai trò của một tập đoàn kinh tế của đất nước.

Xuất khẩu đạt kết quả khả quan

Về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu hóa chất của Việt Nam sau khi sụt giảm trong năm 2019 và năm 2020 đã tăng mạnh trở lại từ trong năm 2021.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hóa chất của nước ta trong 8 tháng đầu năm 2021 đạt 1,45 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến 8 tháng đầu năm 2021, cơ cấu thị trường xuất khẩu hóa chất của Việt Nam đã có sự chuyển dịch khi thị phần xuất khẩu sang Trung Quốc tăng lên và thị của Ấn Độ và Nhật Bản giảm.

Trong 8 tháng đầu năm 2021, Trung Quốc chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu hóa chất của Việt Nam với kim ngạch đạt 377,9 triệu USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu hóa chất sang hầu hết thị trường khác đều tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm 2021 như: Nhật Bản tăng 21,4%, Ấn Độ tăng 126,5%, Hàn Quốc giảm 67,6%…

Đối với Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), lĩnh vực hóa chất được đánh giá sẽ có cơ hội cải thiện kim ngạch xuất khẩu vào EU nhờ tác động từ thuế suất giảm dần về 0%.

Những mặt hàng hóa chất mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng tốt cơ hội nhờ EVFTA gồm Hóa chất cơ bản và chất giặt rửa. Cụ thể, đối với các mặt hàng chất giặt rửa (HS 3402), thuế suất được điều chỉnh từ 4% về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trong khi đó với mặt hàng phốt pho (HS 2804 7000), thuế suất được điều chỉnh giảm từ 5,5% về 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực,…

Theo Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), trong giai đoạn năm 2016-2020, một số mặt hàng hóa chất xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của thế giới trong cùng giai đoạn.

Trong đó, Corundum nhân tạo, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học; nhôm ôxit; nhôm hydroxit đạt mưctăng trưởng xuất khẩu bình quân 23% trong giai đoạn 2016-2020, trong khi nhập khẩu của thế giới trong giai đoạn này tăng khoảng 8%.

Hydro, khí hiếm và các phi kim loại khác xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng 5% trong giai đoạn kể trên trong khi thế giới giảm 6%.

Kẽm oxit; kẽm peroxide, Oxit titan, Clorua, oxit clorua và hiđroxit clorua; bromua và oxit bromua; iotua và… cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2016-2020.